x
THÀNH VIÊN
Facebook login Google login
x
ĐĂNG KÝ
Facebook login Google login
Hủy
x
Quên mật khẩu
Hủy
x
DU LỊCH VIỆT TRẦN

NHẬN NGAY VOUCHER GIẢM GIÁ LÊN ĐẾN 500K

Áp dụng cho tất cả các tour

DU LỊCH VIỆT TRẦN

TÌM HIỂU VỀ NAM KỲ LỤC TỈNH (tiếp theo)

  • Chủ nhật, 00:41 05/05/2019 .
  • Miền Nam ngày xưa được một số người gọi là Nam Kỳ Lục Tỉnh. Lịch sử hình thành và phát triển Nam Kỳ Lục Tỉnh là lịch sử của gần 400 năm gian khổ khẩn hoang lập làng của những nhóm lưu dân người Việt từ Đàng Trong xuôi Nam, của những nhóm lưu dân người Hoa bài Mãn, phục Minh và sự cộng cư của các thổ dân bản địa.

    Con người Nam Kỳ Lục Tỉnh, họ là ai ?

    Người dân miền Thuận Quảng, sau gần 400 năm tiếp cận với nền văn hóa bản địa Phù Nam – Chân Lạp với người Minh Hương và người Pháp, bị tác động bởi một môi trường thiên nhiên khắc nghiệt thuở ban đầu nhưng trù phú về sau, điều kiện đã tạo cho họ những nét đặc thù mà từ ngôn ngữ đến tâm tình lẫn tâm tính có nhiều khác biệt với tổ tiên của họ ở Đàng ngoài.

    Trước tiên, ngôn ngữ là một đổi thay lớn và nhanh chóng.

    Chỉ một thế hệ, Nguyễn Đình Chiểu, con của Nguyễn Đình Huy gốc người quận Phong Điền ở Huế được bổ nhiệm vào Gia Định phò tá Lê Văn Duyệt đã viết nên Lục Vân Tiên, một tác phẩm tiêu biểu của miền Nam với những lời văn nôm na, bình dân trái với với văn phong Hán Học của ông cha.

    "Tiên rằng: Bớ chú cõng con
    Việc chi nên nỗi bon bon chạy hoài"
    hay
    "Phong Lai mặt đỏ phừng phừng
    Thằng nào dám tới lẫy lừng vào đây"

    Nhiều nhà chính trị, văn hóa nổi tiếng của Việt Nam và miền Nam vào thế kỷ 19 đa số là người Thuận Quảng hay người Minh Hương. Thí dụ như Gia Định Tam gia gồm có Trịnh Hoài Đức gốc người Phước Kiến (định cư ở Biên Hòa, tác giả bộ địa phương chí Gia Định Thành Thống Chí), Lê Quang Định gốc người Thuận Quảng (tác giả bộ Hoàng Việt Nhất Thống Địa Dư Chí), Ngô Nhân Tịnh gốc người Quảng Đông.

    Nhiều gia đình danh gia vọng tôc ở Miền Nam, đặc biệt ở Gò Công cũng là con cháu những người Thuận Quảng đã theo các đàn ghe bầu xuôi Nam lập nghiệp vào thế kỷ 17 như Bà Từ Dũ, mẹ vua Tự Đức là con của đại thần Phạm Đăng Hưng và bà Đinh Thị Hạnh, thứ phi của vua Thiệu Trị. 

    Đến vùng đất mới, lưu dân Thuận Quảng mang theo những câu hò, điệu hát Đàng ngoài nhưng lại được cải biên theo địa danh mới.

    "Bắp non mà nướng lửa lò
    Đố ai ve được con đò Thuận An"
    (Huế)

    "Bắp non mà nướng lửa lò
    Đố ai ve được con đò Thủ Thiêm"
    (Gia Định)

    "Ru em em théc cho muồi
    Cho mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu"
    Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu
    Mua cau Bát Nhị, mua trầu Hội An
    Hội An bán gấm bán điều
    Kim Bồng bán cải, Trà Nhiêu bán hành
    (Quảng Nam)

    "Đố anh con rít mấy chưn
    Cầu Ô mấy nhịp, chợ Dinh mấy người
    Chợ Dinh bán áo con trai
    Chợ trong bán chỉ, chợ ngoài bán kim"
    (Gia Định)

    "Chiều chiều ông Lữ đi câu
    Bà Lữ đi xúc, con dâu đi mò"
    (Thuận Quảng)

    "Chiều chiều ông Lữ đi câu
    Sấu tha ông Lữ biết đâu mà tìm"
    (Nhà Bè)

    "Chiều chiều ông Lữ đi cày
    Trâu tha gảy ách ngồi bờ khoanh tay"
    (Hóc Môn)

    Ngoài chuyện cải biên tiếng Việt, sự cộng cư giữa lưu dân Việt từ Đàng Ngoài với người Tàu, người Miên đã tạo thành một thứ ngôn ngữ pha trộn. Biết bao địa danh Nam Kỳ là nói trại từ tiếng Khmer (Sóc Trăng, Trà Vinh, Bãi Xàu, Chắc Cà Đao..) danh từ tiếng Việt và Khmer ghép lại cầu Mây Tức giữa Vïnh Long và Trà Vinh (Mây: tiếng Việt, tức: tiếng Khmer = nước) hay Việt - Khmer - Hoa: Sáng say, chiều xỉn, tối xà quần…hay là: nóp, bao cà ròn (tiếng Khmer), thèo lèo, xá, gật, hủ tiếu, mì, tiệm, thối,xào… (tiếng Hoa) và tiếng quần xà lỏn nói trại từ chữ pantalon của Pháp (hay tiếng xà rông cûa người Khmer ?)

    Bàn về bản chất của người Nam Kỳ, xin mượn hai tài liệu xưa. Trong Gia Định Thành Thống Chí của Trịnh Hoài Đức viết vào khoảng năm 1820 có đoạn: "Vùng Gia Định nước Việt Nam đất đai rộng,lương thực nhiều,không lo đói rét,nên dân ưa sống xa hoa,ít chịu xúc tích, quen thói bốc rời.Người tứ xứ,nhà nào tục nấy…..Gia Định có vị trí Nam phương dương minh nên người khí tiết trung dũng, trọng nghĩa khinh tài…." . John White, sau khi thăm viếng Sài Gòn trở về Luân Đôn có viết trong quyển hồi ký A voyage to Cochinchina năm 1824 như sau: "Chúng tôi rất thỏa mãn về tất cả những gì chúng tôi nhìn thấy, mang theo cảm tưởng tốt đẹp nhất về phong tục và tánh tình của dân chúng. Những sự ân cần, lòng tốt và sự hiếu khách mà chúng tôi thấy đã vượt quá cả những gì mà chúng tôi đã quan sát đến nay tại các quốc gia châu Á…."

    Chúng ta thử tìm hiểu những đặc tính của người dân Miền Nam mà hai tác giả đã nhận định như trên qua cái nhìn lịch sử và xã hội. "Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng" và biết bao ngạn ngữ Đông Tây đã nói lên sự thích ứng của con người với ngoại cảnh. Sự cộng cư giữa người Việt với người Hoa và người Khmer đã khiến người Việt học được bản chất hiếu khách của hai sắc tộc này. Hơn thế, bản chất hiếu khách còn là một nhu cầu sinh tồn của mọi lưu dân trong vùng đất mới. Trước những khắc nghiệt của thiên nhiên, của bất trắc, lưu dân cần sống có nhau, tương trợ nhau. Tính hiếu khách chẳng qua là một sự lo xa, phòng thân bởi lẽ nếu hôm nay tôi giúp anh thì tôi hi vọng ngày mai anh sẽ giúp tôi khi tôi gặp khó. Do đó, chúng ta không ngạc nhiên khi mới gặp nhau, dù chưa quen biết nhau, dân Miền Nam đều cơm nước trà rượu như đã là bà con cật ruột.

    "Ví dầu cầu ván đóng đinh
    Cầu tre lắt lẻo gập ghình khó đi
    Khó đi mượn chén ăn cơm,
    Mượn ly uống rượu mượn đờn kéo chơi"

    Có người còn giải thích tánh hiếu khách,hào phóng của dân Nam Kỳ là do sự trù phú, màu mỡ của ruộng vườn và tài nguyên dễ kiếm được, kiểu làm chơi mà ăn thiệt của dân Miền Nam. Giải thích như vậy có phần đúng nhưng chưa đủ, bởi lẽ không phải ai giàu cũng hào phóng nếu không sẵn có lòng hào phóng.

    Biểu hiện của tính hiếu khách là các tiệc tùng, họp bạn. Dân Nam Kỳ hay ăn nhậu, đờn ca xướng hát. Nhưng phải hiểu rằng dân Nam Kỳ hôm nay là dân Thuận Quảng khi xưa. Xa quê cha đất tổ, người lưu dân, sau những giờ lao động cực lực hay sau những cơn hiểm nguy, cần có những phút giây để tâm sự hàn huyên với nhau, kể cho nhau nghe những kỷ niệm xưa để vơi phần nào nỗi sầu ly hương. Từ những chung rượu cay ở bờ rừng đến những buổi tiệc linh đình ở đám cúng đình, đám giỗ, có đờn ca xướng hát, người dân Nam Kỳ tìm trong những dịp gặp gỡ ấy để giải khuây, để kết bạn. Tiệc rượu lại là dịp bàn chuyện làm ăn, chuyện thế sự, do đó chúng ta không lấy làm lạ cái tiệm nước, quán rượu ở đầu làng là nơi tụ hợp quen thuộc của mọi người dân trong làng,từ ban hội tề cho đến hàng thứ dân.

    Sơn Nam trong Cá Tánh Của Miền Nam đưa ra thêm một lý giải khác về bản tánh hiếu khách, tứ hải giai huynh đệ của người Miền Nam. Theo ông thì: Thiên Địa Hội tạo ra một nếp sinh họat sâu đậm khá hấp dẫn, thực tế:ăn cơm nhà lo chuyện ngoài đường, sống chết nhờ anh em, tận tình giúp đỡ bạn. Trút tất cả tâm sự với bạn kết nghĩa thì không có gì đáng ngại, đã là bạn với nhau rồi thì làm sao có chuyện phản bội. Gặp chuyện bất bình hoặc như bạn nào bị kẻ khác ăn hiếp thì nổi nóng, trả thù cho bạn vô điều kiện, đó là đạo nghĩa giang hồ là điệu nghệ giữa anh em kết nghĩa, tứ hải giai huynh đệ (tr. 106).

    Tưởng cũng nói thêm Thiên Địa Hội, là một thứ hội kín người Hoa phò nhà Minh, liên kết nhau với một kỹ luật thật chặt chẽ để giúp đỡ nhau (những chùa miễu, xí nghiệp Hoa đều có tiền của Thiên Địa Hội), ảnh hưởng nhiều đến dân Minh hương và cả dân Việt trong suốt thế kỷ 19 từ thành thị đến nông thôn, là một đồng minh của các nhà ái quốc Việt Nam chống Pháp.

    Nhưng khía cạnh tiêu cực của bản tánh hào phóng là sự thiếu cần kiệm, hoang phí mà Trịnh Hoài Đức phê là thói bốc rời. Hiện tượng những Cậu Hai, Cậu Ba, Công tử Bạc Liêu, con của những đại phú hộ, thay vì dùng tiền rừng bạc biển để kinh doanh,thì lại đắm chìm trong việc ăn chơi cho đến khi sạch túi. Kết quả là đa số dân Nam Kỳ bị chôn chân ở ruộng vườn, ít bon chen trong thương trường để nền kinh tế cho người Hoa thao túng. Bản chất đôn hậu,mộc mạc là một đức tính khác của dân Nam Kỳ và cũng bắt nguồn từ điều kiện sinh sống. Bản chất này cũng là một nhu cầu cần thiết trong cuộc cộng cư của dân tha phương. Trong một cộng đồng nhỏ, mọi người trước lạ sau quen tạo thành một đại gia đình quần tụ với nhau, do đó họ phải cư xử với nhau bằng tình nghĩa. Những hành động bất tín, bất nghĩa sẽ đưa đến một hình phạt nhục nhã là bị loại trừ ra khỏi cộng đồng, phải bỏ xứ mà đi. Người dân Nam Kỳ nhớ ơn và trung thành chẳng những với người sống mà cả với người chết. Thông thường khi có giỗ chạp, ngoài việc dọn mâm cơm cúng ông bà cha mẹ còn có mâm cơm bày ra trước cửa nhà để cúng đất đai, cúng những người đã ra đi trong công cuộc vở đất mới, cúng thần linh đất đai để những người này phù hộ.

    Nói về sự phù hộ thì dân Nam Kỳ có không biết bao nhiêu thần hộ mạng bởi trên con đường lập nghiệp, họ gặp không biết bao nhiêu hiểm nghèo. Một con thú dữ, một con sông, một tiếng trời gầm, tất cả đều gieo cho họ sự sợ hãi trong bơ vơ, họ luôn cầu nguyện đất trời để phù hộ họ.

    "Tới đây xứ sở lạ lùng
    Con chim kêu phải sợ, con cá vùng phải kinh"

    Đạo Phật vô Nam vì vậy mà biến thể, mang thêm bản chất dị đoan, bùa chú, cộng thêm với bản chất mê tín của Phật giáo Théravada người Khmer và tục thờ cúng nhiều ông Thần, ông Thánh của người Hoa. Dân Nam Kỳ do đó không phải là những tín đồ Phật giáo thuần túy. Việc đi chùa, hành hương, làm công quả, ngoài chuyện cầu nguyện, van vái còn mang thêm bản chất xã hội. Đó là những dịp để bạn bè thân thích gặp gỡ nhau trong một khung cảnh linh thiêng. Chùa chiền trong Nam đa số không uy nghi, cổ kính như chùa miền Bắc và miền Trung, mà trái lại, thường khiêm tốn, thu mình trong những tàng cây cổ thụ, có khi diện tích lớn hàng chục lần ngôi chùa (các ngôi chùa Khmer lại là giang sơn của các loài chim muông). Đi chùa, đi hành hương, đối với dân Nam Kỳ, đặc biệt với phụ nữ còn là dịp đi vãng cảnh. Không lấy làm lạ,là các ngày lễ hội truyền thống như Lễ Hội Bà Chùa Xứ (Vía Bà) ở núi Sam Châu Đốc (25 tháng tư), Lễ Hội Đền Bà Đen ở Tây Ninh (rằm tháng giêng), Lễ hội Cúng Cá Voi ở các vùng ven duyên hải (ngày giờ tùy vùng), Lễ hội Thánh Địa Hòa Hảo ở làng Hòa Hảo Long Xuyên (18 tháng 5 âm lịch)…đã diễn ra trong nhiều ngày thu hút hàng trăm ngàn tín đồ và du khách.

    Sông nước bao la, kinh rạch chằng chịt và dồng ruộng cò bay thẳng cánh lại là những yếu tố quy định cá tánh của dân Miền Nam. Trái với dân cư vùng châu thổ sông Hồng bị bao vây bởi một hệ thống đê điều, làng mạc được thiết lập từ lâu đời bị bao bọc bởi những hàng rào, lũy tre, thân tộc liên kết chặt chẽ nhau qua các thế hệ, làng xã ở Miền Nam thường thiết lập ven sông, chạy dài theo kinh rạch, không có lũy tre, hàng rào ngăn cách, dòng họ thân tộc chưa phát triển chằng chịt như ở miền Trung, miền Bắc.

    Ông Nguyễn Văn Trung đã viết: Do đó về phương diện xã hội, miền Nam không có hiện tượng chị Dậu trong Tắt Đèn của Ngô Tất Tố, bị chà đạp ép bức mà vẫn chịu trận. Trái lại, giai cấp điền chủ ở Miền Nam không thể áp bức dễ dàng nông dân như ở Bắc Kỳ vì nếu không chịu nổi và nếu muốn, vợ chồng chị Dậu chỉ việc xuống ghe thuyền đi tìm một miền đất hứa khác. Đầm lầy, ruộng hoang còn thiếu gì sẵn sàng đón nhận người đến vỡ đất lập nghiệp. (NVT. Lục Châu học. Đặc san TH Mỹ Tho, năm 2000, tr.145)

    Sông rạch và đất nước bao la vì vậy đã tạo cho dân Nam Kỳ tánh khẳng khái, bộc trực, ít chịu cúi lòn, kém thủ đoạn. Tính lửa rơm, giận thì nói ngay, có khi hung hăng, nhưng rồi cơn giận cuốn đi theo sông nước, đồng ruộng bao la. Cái cá tính sẵn có ấy lại được tác động thêm bởi những ý niệm trung hiếu tiết nghĩa qua các truyện Trung Hoa đã ảnh hưởng sâu đậm trong tâm tính của dân Miền Nam vào suốt tiền bán thế kỷ 20 và là một đặc thù của Mảng văn học Miền Nam.

    Nhưng bản chất cứng rắn nầy có khi là một khí giới yếu trong những hoàn cảnh cần sự dẻo dai, uyển chuyển, nhất là trong các sinh họat chính trị. Người ta thường nhắc đến ông Trần Văn Hương với tất cả hai khía cạnh của đặc tánh này.

    Một khía cạnh tiêu cực khác của sự bộc trực là tính thiếu cẩn mật và thiếu tế nhị. Sự thẳng thắn đôi khi là một thất lợi trong cách ứng xử, làm vơi đi sự nể trọng của người khách khi người khách không cần phải biết hết tuốt luột chuyện trong, chuyện ngoài của người chủ.

    Trong dân gian còn lưu truyền câu Ăn mặn nói ngay để diễn tả sự bộc trực của dân Nam Kỳ. Lịch sử di dân và cuộc sống của lưu dân giải thích phần nào cái bản tính này. Lưu dân trên đường xuôi Nam thường phải dùng ghe thuyền để vượt biển và chất mặn của nước biển đã thấm sâu vào huyết quản của lưu dân. Họ quen với muối mặn nên họ thích ăn mặn, thường trong bữa ăn luôn có món kho và khô mặn. Chất mặn cần thiết cho họ có nhiều sức lực để dãi dầu mưa nắng, để chịu đựng với sự khắc nghiệt của thiên nhiên. Nhưng làm một phương trình giữa ăn mặn và nói ngay thì có lẽ còn phải phân giải.

    Dân Nam Kỳ không những nói ngay mà hay nói lớn tiếng, thiếu trau chuốt. Phải hiểu rằng trên biển cả với sóng vỗ ì ầm khi xuôi Nam, trong rừng sâu cây cối đầy đặc khi khẩn đất hay trên khoảng đất rộng người thưa, cò bay thẳng cánh, lưu dân khi cần nói với nhau phải nói ngắn gọn và nói to để vượt các chướng ngại cách trở. Nhu cầu truyền thông trong một khung cảnh thiên nhiên khắc nghiệt như vậy đã thay đổi phong cách truyền thông của người Thuận Quảng xưa.

    Trong công tác khai hoang vỡ đất, thiên nhiên khắc nghiệt không phân biệt giới tính. Người phụ nữ Thuận Quảng vào Nam phải gánh chịu tất cả những thử thách cam go y như nam giới. Người phụ nữ Nam Kỳ do đó đã được đào tạo và trưởng thành trong cùng một môi trường với nam giới. Tính khí, diện mạo, y phục của người phụ nữ Miền Nam vì vậy có phần nào khác với người phụ nữ Miền Trung và Bắc. Họ rắn rỏi hơn trong các sinh hoạt, từ gia đình đến xã hội, từ tình cảm đến tâm linh. Cách ăn mặc của họ cũng đơn sơ hơn, ít màu sắc hơn (người bán hàng rong ở đất Bắc, đất Trung vẫn mặc áo dài, còn đại đa số người đàn bà Nam Kỳ quần đen, áo bà ba đen, có khi còn quàng qua vai một cái khăn bàng hay khăn rằn theo kiểu người Khmer). Dân Nam Kỳ chắc vẫn còn nhớ đội đá bóng phụ nữ vào khoảng 1940-1950.

    Vì lẽ chế độ phụ quyền lỏng lẻo bởi sự suy tàn của Nho học và sự xâm nhập của Tây học, người phụ nữ miền Nam được khai phóng sớm hơn so với phụ nữ miền Trung và miền Bắc trong các tương quan gia đình và xã hội. Một khía cạnh của sự khai phóng này là chế độ đa thê. Chế độ đa thê mà xưa kia người Thuận Quảng dễ dàng chấp nhận nhưng khi vào Nam, chuyện vợ lớn vợ nhỏ, tuy vẫn còn,đặc biệt ở thôn quê thuận lợi cho chuyện nầy vì người đàn ông thường phải đi làm ruộng xa, đi thương hồ, nhưng chuyện đa thê thường bị xã hội chống đối.

    Nếu vua Minh Mạng có đến 142 người con. Nhất dạ ngủ giao, tam hữu dựng (Trong một đêm ngủ với 5 bà thì 3 bà có thai) và Nguyễn Công Trứ, lúc 73 tuổi, lấy vợ lẽ thứ 10, cảm tác trong đêm tân hôn:

    "Tân nhân dục vấn :Lang niên kỷ?
    Ngũ thập niên tiền nhị thập tam"
    dịch nghĩa là:
    "Nàng muốn hỏi anh:Chàng mấy tuổi?
    Năm mươi năm trước mới hăm ba"
    thì vô Nam,các ông Thuận Quảng phải nhớ là:
    "Lập vườn thì phải khai mương
    Làm trai hai vợ phải thương cho đồng"
    và bị người đời chế giễu:
    "Sáng mai anh đi chợ Gò Vấp
    Mua một sấp nhiễu hết sáu chục đồng
    Đem về cho con hai nó cắt
    Con ba nó may,
    Con tư nó đột,
    Con năm nó viền,
    Con sáu kết nút
    Con bảy đơm khuy
    Anh bước cẳng ra đi
    Con tám níu,con chín trì
    Ớ mười ơi ! Sao để vậy, còn gì áo anh"

    Chuyện Nam Kỳ tính chắc còn nhiều điều phải nói, phải lý giải. Nếu xã hội miền Bắc và miền Trung đã thành hình và phát triển lâu đời thành những khuôn khổ chặt chẽ, đó là những môi trường tĩnh, thì đất Nam Kỳ vì là một vùng đất mới, vì là một môi trường động nên còn dễ dàng biến chuyển đổi thay.

    Văn học Nam Kỳ:

    Bùi Đức Tịnh trong bài ‘‘Phần đóng góp của văn học Miền Nam’’ (Saigon: Lửa Thiêng, 1974) đã viết:
    "Trong suốt giai đoạn chuyển tiếp từ văn chương cổ điển sang văn chương hiện kim và giai đọan hình thành của nền quốc văn mới, nghĩa là từ 1865 đến 1932,hầu hết các tác phẩm xuất hiện ở Miền Nam đều bị coi như không có trong lịch sử văn học Việt Nam."

    Nguyễn Hiến Lê trong quyển Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười có thuật lại một cuộc đối thoại giữa tác giả và một người bạn,có cử nhơn Luật,được tác giả mời từ Bắc vào viếng Saigon.Sau đây là câu chuyện:"Anh bạn cầm tờ T.Đ coi qua vài cái tựa chữ lớn rồi bỏ xuống nói:

    Tôi không thế nào đọc báo trong nầy được.

    Sao thế?

    In sai nhiều quá. Hỏi ngã nhầm be bét, rồi ác, át, an, ang… không phân biệt, thật chướng mắt. Cây cau mà in là cây cao thì có chết tôi không chứ ?

    Còn báo ngoài Bắc không in sai sao ? S thì nhầm với X, Tr với Ch.. mà sao anh không thấy chướng?

    Bề gì ngoài mình cũng in ít lỗi hơn. Còn nội dung thì bài vở ở đây tầm thường lắm, ít bài xã thuyết có giá trị. Nói chung, về văn học, Saì Gòn kém Hà Nội xa."

    Hai nhận định này nói lên một thiên kiến tiêu biểu về việc đánh giá thấp nền văn học Nam Kỳ, cho rằng Nam Kỳ không có văn học hay văn học kém, thiếu Nho học và lai căng Pháp. Người Nam không biết viết văn, viết nôm na, sai chính tả, thậm chí có nhà phê bình đất Bắc nhận định rằng Lục Vân Tiên chẳng phải là một tác phẩm văn chương. Thiên kiến trên dựa vào những tiêu chuẩn giá trị và sự thưởng ngoạn văn chương của người Miền Bắc, vốn đã trải qua bao thế kỷ trui rèn trong nền Hán Học, từ sơ khai để trở nên bóng bẩy, chải chuốt, phù hợp với tâm tình và cách ứng xử khách sáo, trang trọng của người Đàng Ngoài. Khi vợ chồng gọi nhau bằng hiền thê, hiền phu và bạn bè xưng tụng là hiền huynh, hiền đệ thì dĩ nhiên lời văn phải trau chuốt gắn liền với nếp sống ấy.

    Trái lại, nếp sống của người lưu dân trong vùng đất mới, thuở mới đến khai hoang lập làng, phải chiến đấu thường xuyên với sơn lam chướng khí,cọp beo rắn rít,phải đương đầu với gian khổ,hiểm nguy:

    "Chèo ghe sợ sấu cắn chưn,
    Xuống sông sợ đỉa,lên rừng sợ ma"

    Trong hoàn cảnh ấy, các lưu dân từ Thuận Quảng xuôi Nam còn đâu có thời giờ và ý chí mà nghĩ đến hành trang chữ nghĩa. Nhưng khi nội chiến đã chấm dứt, khi đất hoang đã biến thành làng xóm, đời sống lưu dân được tương đối ổn định thì một mảng văn học đặc thù Miền Nam đã bắt đầu được hình thành và phát triển từ giữa thế kỷ thứ 19.

    Xa đất Bắc, xa cái nôi của Nho học, tiếp cận với các văn hóa và ngôn ngữ người dân bản địa (Cao Miên, Chàm) và người Minh Hương, lưu dân thường di động trong khoảng đồng ruộng bao la, trên sông nước kinh rạch, lội qua các khu rừng già ngập nước, người Việt vào Nam cần nói và viết sao cho dễ hiểu. Câu văn, câu nói nôm na, bình dân, ngôn ngữ của ruộng đồng là một nhu cầu truyền thông của người dân vùng đất mới. Qua nhiều thế hệ cần lao, tiếp cận với các ngôn ngữ địa phương không khoa cử, văn chương bóng bẩy, Hán học nguyên thủy vùng Thuận Quảng đã biến hóa thành thứ văn chương nghĩ sao nói vậy. Do đó, văn chương Miền Nam là loại văn chương thiên về kể chuyện và trình diễn, thiên về đọc to để mình nghe và để người khác cùng nghe với mình. Người Nam Kỳ nói thơ, chớ không ngâm thơ.

    Nói thơ là một sắc thái văn chương miền Nam thịnh hành từ thành thị đến thôn quê trong suốt 50 năm đầu thế kỷ 20, là một thú giải trí tao nhả của người có học lẫn ít học và tác động nhiều đến tâm tình và lòng ái quốc của dân miền Nam. Người nói cứ trình bày các câu chuyện thường dưới thể lục bát theo lối nói thơ Vân Tiên. Vì câu chuyện bằng thơ thường dài hàng trăm câu, người nói và người nghe hay nằm trên võng, ngồi trên bộ ván hay dựa cột. Những chuyện thơ thường viết theo kiểu có hậu, tức là ơn đền oán trả, trang trải những giá trị luân lý, tiềm ẩn tinh thần ái quốc chống Pháp đã đi sâu vào tâm khảm của dân Nam kỳ. Những chuyện thơ còn nhớ là: Bạch Viên Tôn Các, Chiêu Quân Cống Hồ, Lâm Sanh Xuân Nương, Mục Liên Thanh Đề, Phạm Công Cúc Hoa, Thạch Sanh Lý Thông, Trần Minh Khố chuối, Thoại Khanh Châu Tuấn….

    Bởi lẽ cái đặc tính kể truyện và trình diễn của văn chương Nam Kỳ mà truyện Lục Vân Tiên, ngay khi còn ở thể văn Nôm chưa chuyển ngữ ra chữ Quốc Ngữ thì truyện đã được phổ biến rộng rãi trong dân gian kể cả những người không biết chữ cũng nói thơ Lục Vân Tiên và tác phẩm này đã được tái bản nhiều nhất.

    Thanh Lãng đã nhận xét: Lối văn trong Nam là một lối văn đơn sơ, mộc mạc, dùng hầu toàn chữ Nôm, cách đặt câu có vẻ vắn tắt, không xét gì đến cân xứng, đối chác. Nói tóm lại, nó là thứ văn Việt Nam hơn, dân chúng hơn. (Thanh Lãng - Biểu Nhất lãm văn học cận đại. Saì Gòn: Tự Do, 1958. tr. 78). Bởi lẽ quen thưởng thức lối văn chải chuốt cầu kỳ, những điển tích Hán Văn hiểm hóc,người đọc và người nghe thường đánh giá thấp loại văn chương nôm na, bình dân của người Nam Kỳ Lục tỉnh.

    Có người còn cho rằng viết văn xuôi chữ quốc ngữ có gì là khó nhưng ở vào một thời điểm mà người ta dạy luân lý bằng diễn ca, dạy tiếng Pháp bằng diễn ca, dạy võ bằng diễn ca, thậm chí đi ăn xin cũng kêu van ngân nga có ca, có kệ,câu đối bằng trắc thì viết văn xuôi, muốn cho nó thông cũng thật là khó. (Bằng Giang.Văn học Quốc Ngữ ở Nam Kỳ 1865_1930. NXB Trẻ,Hà nội,1992,tr.376).

    Ngoài tính chất thực tiễn phù hợp với nhu cầu ngôn ngữ và truyền thông của người dân Nam Kỳ, văn chương quốc ngữ, sở dĩ được phát triển dễ dàng hơn trong Nam là nhờ sự đóng góp tích cực cùa giới truyền giáo Thiên Chúa, vốn đã phổ biến và sử dụng ngôn ngữ này từ thời Alexandre de Rhodes (1593_1660) để truyền đạo.

    Trong cuộc Nam Tiến, để có thể giữ đạo trước chính sách cấm đạo của chúa Nguyễn và nhà Nguyễn, nhiều làng giáo dân đã giăng buồm bỏ xứ vào lập nghiệp ở vùng đất mới, đặc biệt vùng cù lao ven sông Tiền, sông Hậu hay cửa sông, cửa biển (Cái Mơn, Cái Nhum, Mặt Bắc, Thom, Mỏ Cày, Sóc Trăng, Ba Thắc…). Nhiều tác phẩm nghiên cứu, tiểu thuyết tiền phong viết bằng chữ quốc ngữ theo cấu trúc của Tây Phương đã xuất hiện trong các xóm đạo từ giữa thế kỷ 19 và nhiều tác giả tiêu biểu của thời kỳ này đều là tín đồ thiên chúa giáo như Huỳnh Tịnh Của (1830-1908: 26 tác phẩm), Trương Vĩnh Ký (1837_1898: 111 tác phẩm) Nguyễn Trọng Quản (1865-1911), Trần Thiên Trung (bút hiệu của Trần Chánh Chiếu 1867_1919). Riêng Huỳnh Tịnh Của và Trương Vĩnh Ký (nói, viết được 15 sinh ngữ và từ ngữ Tây Phương) đều xuất thân từ Đại Chủng Viện Poulo Pénang (MãLai).

    Một yếu tố khác cũng không kém quan trọng là văn chương chữ quốc ngữ lại được chánh quyền bảo hộ khuyến khích, mục đích cho người dân đọc được dễ dàng các thông cáo, nghị định của chánh phủ bước đầu đưa đến việc dùng chữ Pháp, mục tiêu tối hậu của chính sách đồng hóa. (chữ quốc ngữ chỉ được sử dụng chính thức ở miền Bắc từ 1913 trong khi ở miền Nam đã sử dụng từ gần nửa thế kỷ trước).

    Trong ý đồ ấy, người Pháp đã mở thêm nhiều trường dạy chữ quốc ngữ và chữ Pháp, hô hào giúp đỡ người dân đi học, cốt để đào tạo một đội ngũ công chức thừa hành, hỗ trợ cho công cuộc cai trị của chính quyền thuộc địa Pháp. Nhưng trong một thời gian dài lúc ban đầu, đa số người nhà giàu vì lo sợ mất con khi con học tiếng Pháp thì nghĩ rằng Pháp sẽ bắt đưa về Pháp và các thuộc địa Pháp ở Phi Châu nên có hiện tượng những nhà giàu mướn con nhà nghèo đi học thay thế. Kết quả là tại Nam Kỳ, đầu thế kỷ 20, một số trí thức đỗ đạt xuất thân từ bần cố nông.

    Tour liên quan
    x

    Tư vấn tour Miễn Phí

    Cám ơn các bạn đã quan tâm đến tour du lịch của chúng tôi !

    Hãy điền thông tin cá nhân của bạn vào đây chúng tôi sẽ liên hệ trong thời gian sớm nhất để hoàn tất thủ tục cho chuyến đi này

    
    TOP

    0898 51 52 53